ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

72

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã huy động, phát huy tối đa tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục..., làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhận thức rõ vai trò của hậu phương trong chiến tranh; cho nên, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng hậu phương miền Bắc (HPMB) vững mạnh, là điểm tựa vững chắc cho miền Nam đánh giặc.

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) kết thúc, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng; miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ. Để hoàn thành mục tiêu thống nhất đất nước, Đảng quyết định đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Bắc mới trở thành hậu phương vững chắc, đáp ứng được yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Trung ương 7 (3/1955), Đảng ta chỉ rõ: “Muốn củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc, chúng ta phải có lực lượng. Lực lượng của ta bao gồm toàn quốc, nhưng chủ yếu là ở miền Bắc. Muốn có lực lượng phải ra sức củng cố miền Bắc”. Tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (9/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt”. Đến Đại hội III (9/1960), Đảng ta xác định đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Cách mạng ở mỗi miền tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau; trong đó, “tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”. Như vậy, sớm xác định miền Bắc là nền tảng của cách mạng cả nước, sớm định hướng xây dựng miền Bắc theo con đường XHCN là quyết tâm đúng đắn, là cơ sở cho việc xây dựng hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng HPMB thể hiện trên những nội dung sau:

Các nữ dân quân tỉnh Hà Bắc thi đua lao động sản xuất vì miền Nam ruột thịt. (Ảnh: Tư liệu).
Các nữ dân quân tỉnh Hà Bắc thi đua lao động sản xuất vì miền Nam ruột thịt. (Ảnh: Tư liệu).

Một là, xây dựng HPMB vững mạnh toàn diện. Về chính trị, ngay sau khi hòa bình lập lại, Đảng chỉ đạo phải nhanh chóng ổn định tình hình chính trị - xã hội, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiên quyết chống lại âm mưu phá hoại và luận điệu xuyên tạc của địch, nhất là ở những vùng tạm chiếm; thiết lập và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân trên toàn miền Bắc; từng bước ổn định đời sống cho các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, công tác cải cách ruộng đất đã mang lại những chuyển biến to lớn đối với nông thôn và nông dân miền Bắc; làm cho dân tin Đảng, khối đại đoàn kết được giữ vững và tăng cường.

Về kinh tế, đẩy mạnh công cuộc cải tạo nền kinh tế miền Bắc từ hình thức sở hữu tư nhân sang sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất; từ nền sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, kỹ thuật lạc hậu tiến lên sản xuất lớn XHCN. Các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp được mở rộng; các cơ sở công nghiệp (nhất là sản xuất hàng tiêu dùng) được khôi phục và nâng dần quy mô sản xuất. Kinh tế quốc doanh đã nắm phần lớn các ngành then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Về văn hóa, giáo dục, y tế, phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao, sách báo diễn ra sôi nổi; nạn mù chữ cơ bản được thanh toán, hệ thống giáo dục phổ thông với chương trình 10 năm được xác lập, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp từng bước phát triển cả về số lượng, chất lượng; hầu hết các xã vùng đồng bằng và nhiều xã miền núi có trường phổ thông cấp 1 và cấp 2, huyện có trường cấp 3; các cơ sở khám chữa bệnh được củng cố và phát triển, phong trào vệ sinh dịch tễ được tăng cường, các bệnh truyền nhiễm, bệnh xã hội được đẩy lùi, hình thành hệ thống mạng lưới y tế từ thành thị đến nông thôn.

Về quân sự, Quân đội được đầu tư xây dựng theo hướng từng bước chính quy, hiện đại. Quân thường trực ở miền Bắc (các sư đoàn) được biên chế đầy đủ về quân số, trang bị, vũ khí, được huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật, có thể lực tốt... Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt bảo vệ HPMB, sẵn sàng chi viện miền Nam, Đảng triển khai nhiều biện pháp củng cố nền quốc phòng toàn dân.

Với sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, miền Bắc đạt được những kết quả to lớn trong xây dựng hậu phương. Tại Hội nghị chính trị (3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Trong 10 năm qua, Miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới”.

Hai là, bảo vệ hậu phương miền Bắc XHCN. Trong 21 năm kháng chiến, miền Bắc luôn phải đối phó với âm mưu, thủ đoạn chống phá của đế quốc Mỹ. Ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh, giới chức quân sự Mỹ tiến hành chiến tranh tâm lý, tung biệt kích, thám báo ra miền Bắc, móc nối với bọn phản động, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào Công giáo di cư vào Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam. Trước tình hình đó, Đảng tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho nhân dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ cách mạng, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; giữ vững lòng tin vào Đảng, vào thắng lợi của cách mạng, nâng cao ý chí chiến đấu. Đồng thời, động viên, tổ chức toàn dân tham gia giữ gìn, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong các thôn xã, công nông trường, xí nghiệp, hầm mỏ, cơ quan nhà nước, lực lượng dân quân tự vệ đã phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Với mục tiêu chiến lược hủy hoại tiềm lực của miền Bắc, đế quốc Mỹ tập trung sức mạnh không quân, hải quân tiến hành hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn (năm 1965–1968 và năm 1972). Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3/1965) và lần thứ 12 (12/1965), Đảng quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, vừa chiến đấu, vừa sản xuất. Quyết sách này không chỉ giúp miền Bắc đủ sức chống chọi và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, mà còn bảo đảm tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện vững chắc vai trò hậu phương lớn. Trong đó, các cơ quan Đảng, Nhà nước gấp rút chấn chỉnh, sắp xếp, kiện toàn về tổ chức và lề lối làm việc. Tiếp tục duy trì và giữ vững sản xuất trong điều kiện địch đánh phá, tập trung sức đẩy mạnh nông nghiệp với hai ngành sản xuất chính là trồng trọt, chăn nuôi. Hàng vạn lớp học với hàng chục vạn học sinh sơ tán khỏi vùng trọng điểm, tiếp tục học tập, chương trình giảng dạy được cải tiến phù hợp với tình hình mới... Nhờ có chủ trương, biện pháp đúng đắn nên mặc dù bị địch đánh phá ngày càng khốc liệt, nhưng miền Bắc vẫn vững vàng, ổn định; sản xuất được duy trì; nhu cầu thiết yếu trong đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được đảm bảo; nhịp độ và khối lượng vận chuyển không ngừng tăng lên, đáp ứng kịp thời yêu cầu của các chiến trường. Trong hai lần chống chiến tranh phá hoại, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 4.181 máy bay tiêm kích, cường kích và pháo đài bay chiến lược B.52; bắn chìm, bắn cháy hàng trăm tàu chiến. Kết quả trên khẳng định sức mạnh phi thường, bản lĩnh chính trị kiên định của nhân dân miền Bắc.

Ba là, phát huy vai trò của hậu phương miền Bắc XHCN. Dựa trên nền tảng của chế độ xã hội mới, Đảng đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp nhằm phát huy cao nhất vai trò của HPMB đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trước hết, đã làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, nhiệm vụ của HPMB, sức mạnh to lớn của quân và dân ta... Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin, khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân, biến đường lối của Đảng thành hành động cách mạng, phong trào thi đua sôi nổi. Để động viên sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, một trong những biện pháp được Đảng tiến hành xuyên suốt là chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, các cấp, các ngành, các địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; nhờ đó, miền Bắc đã động viên được cao nhất sức người, sức của chi viện cho miền Nam. Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách về kinh tế, phân phối thu nhập, chế độ tiền lương, chính sách thuế... đảm bảo duy trì và ổn định đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, Đảng đã khơi dậy, phát huy mạnh mẽ truyền thống tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân; thực hiện các chế độ, chính sách ưu tiên đối với những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đồng bào các dân tộc thiểu số, con em cán bộ miền Nam. Như vậy, mặc dù chiến tranh gây ra nhiều tổn thất, nhu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng lớn, cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhưng miền Bắc vẫn không ngừng lớn mạnh đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến.

Với tinh thần “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” miền Bắc đã “thắt lưng, buộc bụng”, dốc vào cuộc kháng chiến toàn bộ sức mạnh. Tại Đại hội lần thứ IV (1976), Đảng ta đánh giá: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu không có miền Bắc XHCN... Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”. Cụ thể:

Về sức người, hàng chục vạn thanh niên ưu tú ở miền Bắc đã lên đường nhập ngũ, trực tiếp tham gia chiến đấu tại các chiến trường miền Nam. Năm 1959, miền Bắc chi viện cho miền Nam 542 người; năm 1964 đã lên tới 17.475 người và đến năm 1975 tổng số người huy động cho quốc phòng chiếm 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 1975, số lượng cán bộ, chiến sĩ được lệnh hành quân thần tốc vào miền Nam đã lên tới 110.000 người .

Về vật lực, miền Bắc đã đưa vào miền Nam hàng triệu tấn vũ khí, đạn dược, trang thiết bị quân sự, thuốc và dụng cụ y tế, lương thực, thực phẩm... thông qua các tuyến đường chiến lược: Trong 5 năm đầu 1959 – 1964, đã chuyển vào Khu 5 được hơn 2.500 tấn vật chất; 7 tháng mùa khô 1967 – 1968, đã chuyển 63.024 tấn vật chất; mùa khô 1971 – 1972, vận chuyển cho các chiến trường 64.785 tấn hàng, đạt 145% chỉ tiêu kế hoạch. Trong hơn 2 năm chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, toàn tuyến 559 đã vận chuyển, bàn giao cho các chiến trường 413.450 tấn vũ khí, hàng hóa các loại . Đặc biệt, theo số liệu thống kê, trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% nhiên liệu, 65% thuốc và dụng cụ y tế, 85% phương tiện vận tải đáp ứng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là huy động từ miền Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã trở thành hậu phương, căn cứ địa vững chắc để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chiến tranh công nghệ cao đã xóa nhòa ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương. Hậu phương không còn là vùng an toàn tuyệt đối, mà đã trở thành mục tiêu chiến lược của đối phương. Trước sự phát triển vượt bậc của vũ khí tầm xa và chiến tranh mạng, hậu phương ngày càng đối mặt với nhiều mối đe dọa trực tiếp, đòi hỏi phải có sự bảo vệ vững chắc. Kế thừa những bài học quý từ xây dựng HPMB trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, việc củng cố và xây dựng hậu phương hiện nay cần thực hiện tốt các nội dung:

Thứ nhất, xây dựng hậu phương vững mạnh về mọi mặt, chú trọng xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ và sự đồng thuận trong xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng, tài chính. Bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, đạo đức, pháp luật cho nhân dân. Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, nâng cao nhận thức của người dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, chăm lo chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ hai, kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế - xã hội trong xây dựng hậu phương. Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm xây dựng hậu phương vững mạnh, tạo ra thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Xây dựng hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật không chỉ phục vụ phát triển kinh tế mà còn đảm bảo yêu cầu cơ động lực lượng, vận chuyển hậu cần khi cần thiết. Đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa để tạo nền tảng ổn định, góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia. Phát triển công nghiệp quốc phòng song song với công nghiệp dân dụng để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, vừa đảm bảo năng lực tự chủ trong sản xuất vũ khí, trang thiết bị quân sự. Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng tại các vùng trọng điểm, biên giới, hải đảo để vừa phát triển sản xuất, vừa giữ vững chủ quyền quốc gia.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, cả hệ thống chính trị, các nguồn lực trong và ngoài nước vào xây dựng hậu phương. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp sẽ giúp huy động tối đa các nguồn lực để củng cố hậu phương vững chắc. Do đó, cần thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ công bằng cho mọi tầng lớp nhân dân. Xây dựng cơ chế để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, phản biện trong các quyết sách quan trọng liên quan đến hậu phương. Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng hậu phương quân đội. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với các lĩnh vực liên quan đến quốc phòng - an ninh. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng hậu phương quân đội. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, huy động các nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc là điểm tựa vững chắc cho miền Nam. Đó là minh chứng cho tính ưu việt của chế độ XHCN và tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước♦

Trung tướng DƯƠNG ĐỨC THIỆN

Chính ủy Học viện Hậu cần

Facebook Messenger Zalo Gọi điện