Hậu cần nhân dân (HCND) là lực lượng hậu cần huy động từ quần chúng nhân dân, các tổ chức để tham gia bảo đảm cho lực lượng vũ trang (LLVT) chiến đấu. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, HCND đã khẳng định vai trò hết sức quan trọng. Đặc biệt, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, HCND trở thành nhân tố góp phần quyết định đến thắng lợi của LLVT.

Ngay từ khi thành lập (năm 1930), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác địch, để đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, cần phải thành lập các LLVT làm nòng cốt và vũ trang cho nhân dân. Theo đó, từ phong trào cách mạng của quần chúng, thông qua các cuộc khởi nghĩa (Nam Kỳ, Bắc Sơn…), Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân thành lập các đơn vị tự vệ, du kích, tiến tới thành lập các đơn vị Cứu quốc quân. Khi thời cơ cách mạng sắp chín muồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Bảo đảm hậu cần cho các đội vũ trang thời kỳ này (thời kỳ tiền khởi nghĩa) là HCND.
Kế thừa và phát huy truyền thống cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc, toàn dân tiếp tế và phục vụ đội quân đánh giặc, HCND bảo đảm cho các đội vũ trang thời kỳ tiền khởi nghĩa đã hoạt động rất đa dạng và phong phú, khi bí mật, lúc công khai; song, đều giữ vững mục tiêu bảo đảm cho các đội vũ trang “ăn no, đánh thắng”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác HCND đã trở thành nhân tố quan trọng, góp phần quyết định vào những thắng lợi của LLVT thời kỳ tiền khởi nghĩa và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý. Những kinh nghiệm đó được thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, nắm vững và tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về HCND thời kỳ tiền khởi nghĩa. Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng (khi đó là Đảng cộng sản Đông Dương) về vai trò quan trọng của nhân dân, LLVT đã dựa chắc vào dân. Nhân dân trong các khu (tiền thân của HCND) trở thành nhân cốt, cơ sở để triển khai, vận động toàn dân tham gia bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu. Từ đầu năm 1943, theo kế hoạch của Liên khu ủy Cao - Bắc - Lạng, “các lò rèn đã mọc ra khắp nơi trong Khu để rèn gươm, dao, kiếm và sửa chữa súng kíp, súng hỏa mai”. Để có nguyên liệu, đồng bào tự nguyện quyên góp sắt, đồng, lưỡi cày, chậu thau, mâm đồng cho các lò rèn; theo hướng dẫn của cán bộ, nhân dân đã tích trữ lương thực trong núi, hầu hết các xã đều có kho thóc du kích. Được sự ủng hộ của nhân dân, đầu năm 1944, ta đã lập xưởng sản xuất vũ khí ở Cao Bằng, Bắc Ninh. Thực hiện chủ trương của Đảng: “Đánh đuổi phát xít Nhật, chống lại chính quyền bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật… động viên mau chóng quần chúng nhân dân lên mặt trận cách mạng, tập duyệt cho quần chúng mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa”; các LLVT vận động nhân dân “bất hợp tác với Nhật về mọi phương diện, chống thu thóc, không nộp thuế”, tổ chức lập Quỹ ủy ban quân sự cách mạng, “phát hành một triệu tín phiếu của Việt Nam giải phóng quân”. Theo đó, nhân dân tích cực cung cấp thóc cho ủy ban nhân dân cách mạng, Ủy ban công nhân cách mạng ở những vùng mà LLVT hoạt động. Để chuẩn bị tổng khởi nghĩa, tháng 3/1945, lực lượng cách mạng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện theo “Hịch” của Việt minh, kêu gọi đồng bào kháng Nhật cứu quốc. Nhân dân ta đã “phá các đường giao thông vận tải, giây thép, kho tàng của Nhật” để ngăn chặn quân giặc đi càn quét, làm cho chúng rối ren. Đặc biệt, khi Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhân dân càng tích cực cung cấp kim khí, lương thực, bông sợi… để chuẩn bị mọi mặt tiến tới tổng khởi nghĩa. Ngày 14/4/1945, Mặt trận Việt minh ra lời kêu gọi “Đồng tiền cứu nước” nhằm động viên tài lực, vật lực của nhân dân. Đáp lời kêu gọi, đồng bào đã “biểu hiện sự hy sinh cao quý, nhịn ăn, nhịn mặc để phụng sự Tổ quốc”.
Sau thắng lợi của Khởi nghĩa Bắc Sơn, nhất là thắng lợi trong các trận đánh đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (Phai Khắt, Nà Ngần, Vũ Nhai, Đình Cả, Chợ Chu…), tổ chức lực lượng khởi nghĩa được lan rộng, các chính trị phạm đã phá ngục Nghĩa Lộ (Yên Bái) về tăng cường cho Quân giải phóng, đồng thời lan tỏa, bổ sung LLVT. Trong thời gian này, phong trào chống phát xít, thực dân cũng nổ ra; một số chính trị phạm đã tổ chức tự phá ngục Ba Tơ (Quảng Ngãi) về tăng cường cho khu du kích Ba Tơ, vận động nhân dân đánh bọn “Liên đoàn”, cường hào, tay sai của giặc, đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, cướp của; đồng thời, xây dựng khu du kích làm chỗ dựa cho phong trào. Lực lượng cách mạng tích cực tuyên truyền kết quả bảo đảm của HCND trong Khu giải phóng để vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh… cho LLVT.
Thứ hai, tuyên truyền, vận động nhân dân huy động sức người, sức của bảo đảm cho LLVT. Để nhân dân thấm nhuần chủ trương của cách mạng; một mặt, ủy ban kháng chiến tích cực tuyên truyền về truyền thống đoàn kết, quyết tâm đánh giặc ngoại xâm của dân tộc, truyền thống yêu nước của đồng bào các dân tộc từ xã, châu huyện, tỉnh, đến khu giải phóng; mặt khác, Mặt trận Việt minh thành lập những đội “Tán phát xung phong”, “Tuyên truyền xung phong” võ trang đi phát tuyên ngôn Việt Minh; chú trọng dán áp phích, giải truyền đơn, khẩu hiệu, bươm bướm,… Tổ chức các cuộc mít tinh, công khai diễn thuyết, triển lãm sách báo, tranh ảnh, võ khí ở các nơi. Kết hợp các hình thức tuyên truyền với tranh đấu, như: Gắn khẩu hiệu “Tranh đấu đòi cơm áo, chống thu thóc, thu thuế” với khẩu hiệu “Chính quyền cách mạng của nhân dân”. Các ủy ban còn tổ chức những “cuộc biểu tình đòi gạo, đòi ăn, phá kho thóc của đế quốc”, “tổng biểu tình, tuần hành, bãi công chính trị, mít tinh công khai, bãi khóa, bãi thị, bãi hợp tác với Nhật”. Để nhân dân đọc, hiểu được những nội dung tuyên truyền, ủy ban kháng chiến ra chủ trương mỗi xã thành lập nhà Hội đồng cứu quốc, “cứ 15 ngày dân chúng họp một lần”. Nhiều xã đã mở trường dạy chữ quốc ngữ. Châu huyện bắt đầu có báo địa phương. Toàn khu giải phóng có tờ báo Nước Nam mới, Quân giải phóng; Liên khu Cao - Bắc - Lạng có tờ Việt Nam độc lập. Trong các châu đều bắt buộc thành lập trường cán bộ hàng châu để đào tạo cán bộ. Trường Quân chính kháng Nhật được xây dựng trong Làng Mán gần thủ đô lâm thời của khu giải phóng và tiến hành khai giảng khóa thứ Nhất ngay trong thượng tuần tháng 7/1945.
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động, ta đã huy động nhân lực, vật chất, phương tiện từ nhân dân để bảo đảm cho các LLVT. Việc nuôi dưỡng đội viên các đội du kích đều dựa vào nhân dân là chủ yếu. Khi ốm đau, bị thương, đội viên tự băng bó, cứu chữa cho nhau, rồi nhờ các thái y, lang y chăm sóc. Cùng với đó, các địa phương còn tổ chức phá kho thóc của giặc. Chỉ từ 09/5 ÷ 08/6/1945, nhân dân tỉnh Hưng Yên đã phá 7 kho, thu về 6.000 tạ thóc; ngày 18/6/1945, nhân dân làng Thổ Khối (Bắc Ninh) đã không nộp thuế mà nộp vào quỹ Cứu quốc Việt Minh được 500 đồng; ngày 04/4/1945, xã Anh Thắng (Phúc Yên) đã tịch thu của lý trưởng khoảng 70 tạ thóc… để tiếp tế cho LLVT.
Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Ủy ban kháng chiến xác định quyết tâm lấy nhiệm vụ bảo đảm cho LLVT chiến đấu thắng lợi làm mục tiêu cao nhất. Theo chủ trương đó, các vùng tổ chức lực lượng nòng cốt để thực hiện bảo đảm cho LLVT chiến đấu. Ban đầu, các đội Tự vệ đỏ, Đội du kích Bắc Sơn (Cứu quốc quân) vẫn dựa vào nhân dân để lo việc nuôi dưỡng. Đến khi Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân thành lập, việc nuôi dưỡng anh em bắt đầu có sự phát triển, mang tính chủ động hơn. Đồng chí Văn Tiên (tên thật là Lộc Văn Lùng) làm quản lý để “chăm lo bảo đảm cơm, nước, quần áo, thuốc men cho toàn đơn vị”, vận động nhân dân quanh vùng giúp đỡ. Dụng cụ cấp dưỡng của Đội được nhân dân ủng hộ “hai chiếc nồi để nấu cơm, cháo, bung ngô…”. Các đoàn thể cứu quốc đã vận động nhân dân tổ chức ủng hộ “gạo tuyên truyền”, “muối tuyên truyền”; nhiều tổ chức, cá nhân đã quan tâm, có nhiều biện pháp chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho anh em trong Đội. Trân trọng sự giúp đỡ của nhân dân, các đội viên luôn thực hiện tiết kiệm, sử dụng hiệu quả vật chất mà nhân dân ủng hộ; đồng thời, tôn vinh những cá nhân, tổ chức có việc làm tốt trong giúp đỡ, ủng hộ lương thực, thực phẩm, thuốc men, nuôi dưỡng, chữa trị, phục hồi sức khỏe cho bộ đội; điều đó càng tạo lên niềm tự hào, tin tưởng của nhân dân.
Những kinh nghiệm của HCND bảo đảm cho LLVT thời kỳ tiền khởi nghĩa, đến nay, vẫn còn nguyên giá trị. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), thực hiện quan điểm của Đảng về chiến tranh nhân dân, hậu cần toàn dân, HCND vẫn là nhân tố góp phần quyết định đến nhiệm vụ bảo đảm cho Quân đội ta phát triển và chiến đấu. Vì vậy, cần kế thừa và phát triển những kinh nghiệm đó bằng các nội dung giải pháp chủ yếu sau đây:
Một là, tiếp tục tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc, của địa phương, vị trí, vai trò của HCND trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Các cấp ủy, chỉ huy, cơ quan, tổ chức trong mỗi đơn vị phải thường xuyên quan tâm, tổ chức giáo dục truyền thống đánh giặc, giữ nước, ý chí, quyết tâm “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”… của các thế hệ người dân Việt Nam để xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc cho cán bộ, chiến sỹ. Đồng thời, tuyên truyền truyền thống 80 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, lực lượng tin cậy của Đảng và Nhân dân: Anh hùng trong chiến đấu, sáng tạo trong lao động sản xuất, tích cực trong công tác; “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Giáo dục tuyên truyền về vị trí, vai trò to lớn của HCND – nhân tố góp phần quyết định đến nhiệm vụ bảo đảm cho LLVT trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, chấp hành và thực hiện nghiêm đường lối của Đảng ta về chiến tranh nhân dân, hậu cần toàn dân. Quán triệt và tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ; Thông tư số 41/2020/TT-BQP, ngày 31/3/2020 của Bộ Quốc phòng Qui định thực hiện một số điều của Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ: “Tổ chức, thành phần, chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động, mối quan hệ của Hội đồng cung cấp khu vực phòng thủ cấp tỉnh, cấp huyện”. Đồng thời, thực hiện Chiến lược Quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thế trận lòng dân, thực hiện kế sách “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”. Thực hiện Chiến lược Quân sự “dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong khu vực phòng thủ”. Làm cơ sở để phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai là, chú trọng giáo dục, tuyên truyền về truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của Ngành Hậu cần Quân đội và truyền thống của các đơn vị. Từ ngày mới thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã tổ chức “ăn bữa cơm nhạt” thể hiện tinh thần quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để chiến đấu đánh giặc ngoại xâm. Sau đó, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân phát triển thành Đội giải phóng quân và Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay, đã hun đúc lên truyền thống “quyết chiến, quyết thắng”. Qua các thế hệ, các cấp lãnh đạo, các tổ chức đều thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động bộ đội và nhân dân tiếp tục xây dựng, vun đắp truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đồng thời, giáo dục, tuyên truyền về truyền thống “tự lực, tự cường”, “hết lòng phục vụ bộ đội” của Ngành Hậu cần Quân đội. Từ khi mới thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân chỉ có ba đồng chí đảm nhiệm công tác hậu cần (Văn Tiên, Nhật Tâm, Nhật Thành). Sau khi phát triển thành Đội giải phóng quân, lực lượng hậu cần được tổ chức thành “Ban quản lý gồm từ 3 ÷ 4 chiến sỹ” đảm nhiệm ở cấp Đội, “các trung đội hoạt động phân tán cũng được biên chế một đồng chí quản lý”. Theo sự phát triển của Quân đội, Ngành Hậu cần Quân đội được tổ chức ngày càng chặt chẽ từ cấp chiến lược đến cấp chiến thuật. Ngành Hậu cần Quân đội đã phát huy truyền thống bảo đảm cho Quân đội chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Ba là, xây dựng hậu cần toàn dân, nòng cốt là hậu cần Quân đội; chú trọng xây dựng HCND cơ cở xã (phường), hậu cần khu vực phòng thủ địa phương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho LLVT hoàn thành mọi nhiệm vụ. Trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế và tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta sẽ có điều kiện đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tạo nền tảng để xây dựng HCND vững mạnh. Do vậy, cùng với xây dựng, phát triển qui mô LLVT, cần thường xuyên củng cố hệ thống tổ chức HCND các cấp đủ mạnh, trước hết là cấp xã (phường); cùng với quá trình đó, cần ra sức xây dựng hậu cần quân đội vững mạnh toàn diện, có cơ cấu tổ chức, biên chế hợp lý từ cấp chiến lược đến cấp chiến thuật.
Hiện nay, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, cần đẩy mạnh xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, HCND cơ sở xã (phường) sẽ lực lượng nòng cốt để thực hiện nhiệm vụ của hội đồng cung cấp (các cấp), nhằm huy động nhân lực, vật lực bảo đảm cho các lực lượng tác chiến. Do đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, tổ chức xây dựng HCND cơ sở xã (phường), hội đồng cung cấp khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, huyện, quận vững mạnh, trở thành hạt nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho LLVT hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng hậu cần toàn dân. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tiếp tục thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về chiến tranh nhân dân, hậu cần toàn dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Do đó, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển cả về nội dung, hình thức, nên cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Quán triệt và tổ chức xây dựng có hiệu quả khu vực phòng thủ, coi trọng “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn”. Theo đó, các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội quán triệt, tổ chức thực hiện các giải pháp để xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh và phát triển đất nước, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, nhất là trên các vùng chiến lược, trọng điểm. Kết hợp “phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh” trong khu vực phòng thủ, trên từng địa bàn, nhất là địa bàn trọng điểm, chiến lược.
Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, Đảng ta đang đẩy mạnh chủ trương xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” làm cơ sở đến năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Hậu cần nhân dân tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng ở mức độ cao hơn, phát triển hơn và có ý nghĩa lớn đối với Quân đội ta. Kế thừa, vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm của HCND bảo đảm cho LLVT thời kỳ tiền khởi nghĩa trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần to lớn nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, đảm bảo cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra).
Trung tướng, GS. TS. PHAN TÙNG SƠNGiám đốc Học viện Hậu cần