KINH NGHIỆM BẢO ĐẢM HẬU CẦN CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH, HƯỚNG KẾ THỪA, VẬN DỤNG VÀO BẢO ĐẢM HẬU CẦN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC

16

Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Thắng lợi của chiến dịch là sự kết tinh của nhiều yếu tố, trong đó, bảo đảm hậu cần (BĐHC) có vai trò quan trọng. Những kinh nghiệm BĐHC trong chiến dịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, nên cần được vận dụng và phát triển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) tương lai (nếu xảy ra).

Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra trong không gian rộng lớn, với quân số khoảng 300.000 người. Để BĐHC cho chiến dịch, hậu cần chiến trường Nam Bộ (B2) và hậu cần tiền phương của Tổng cục Hậu cần (TCHC) đã sử dụng kết hợp nhiều tổ chức, lực lượng hậu cần (LLHC) các cấp, cả của lực lượng vũ trang và nhân dân; kết hợp các phương thức và hình thức BĐHC. Thực tiễn sinh động đó để lại nhiều kinh nghiệm quý, đó là:

Thứ nhất, chủ động, tích cực chuẩn bị trước, khẩn trương chuẩn bị trực tiếp theo quyết tâm tác chiến chiến dịch. Trong điều kiện chiến dịch diễn ra tại chiều sâu sào huyệt của địch, xa hậu phương lớn miền Bắc, thực hiện chủ trương của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, TCHC đã chủ động chuẩn bị trước chu đáo, toàn diện từ nhiều năm trước đó. Ngay từ khi có đường lối giải phóng miền Nam bằng đấu tranh vũ trang, để bảo đảm cho phát triển lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh, xây dựng chiến trường B2, Tổng cục Hậu cần đã triển khai xây dựng các cơ sở hậu cần thành các căn cứ hậu cần (CCHC) trên từng khu vực. Hậu cần B2 đã từng bước xây dựng các CCHC quanh Sài Gòn, gồm phía Tây Bắc, Đông Bắc, tiếp đến là phía Đông và Đông Nam, từng bước tiếp cận Sài Gòn.

Đối với cấp chiến lược, tuyến đường Trường Sơn từng bước tiến sâu vào chiến trường, đến năm 1968 đã vươn tới chiến trường B2; tuyến đường ống xăng dầu vươn đến Bù Gia Mập (Bình Phước). Hình thành các CCHC trên địa bàn chiến dịch; khả năng bảo đảm vật chất cho chiến trường lớn hơn, kết hợp cả khả năng tại chỗ và chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc. Tuy nhiên, lượng dự trữ vật chất còn hạn chế, ban đầu mới bảo đảm được cho tác chiến trong mùa khô. Sau hiệp định Pa-ri năm 1973, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn được tăng cường, mở rộng, phát triển vận tải cơ giới để tăng khả năng chi viện cho chiến trường miền Nam, trong 2 năm đã đưa vào chiến trường hơn 300.000 tấn vật chất, tạo lượng dự trữ cho B2 hàng vạn tấn. Đối với hậu cần Miền, trong 2 năm 1973 - 1974, đã mở đường chiến dịch, củng cố các CCHC; đường vận tải cơ giới được mở rộng, nối liền các CCHC. Chỉ đạo hậu cần Quân khu (QK) 7, QK 8 triển khai các cơ sở hậu cần tiếp cận Sài Gòn trên hướng Đông Nam và Nam. Vật chất dự trữ trước khi chuẩn bị chiến dịch đạt trên 40.000 tấn.

Khi có quyết tâm chiến dịch Hồ Chí Minh, hậu cần chiến dịch (HCCD) chỉ có 22 ngày chuẩn bị; kế thừa kết quả chuẩn bị trước, HCCD đã điều chỉnh, tiến lên phía trước để phù hợp với quyết tâm tác chiến chiến dịch. Huy động mọi nguồn lực để có đủ 60.000 tấn vật chất theo nhu cầu; mở các tuyến đường về phía Tây và Tây Nam để tăng cường khả năng vận tải cơ giới, tăng khả năng vận chuyển vật chất ra phía trước tiếp cận đội hình chiến đấu để bảo đảm. Trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, khả năng hậu cần tại chỗ hạn chế, nếu không có sự chuẩn bị từ trước thì không thể hoàn thành nhiệm vụ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương duyệt phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, 4/1975). (Ảnh: TTXVN)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương duyệt phương án tác chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh (Hà Nội, 4/1975). (Ảnh: TTXVN)

Thứ hai, dựa vào thế trận hậu cần (TTHC) chiến lược, xây dựng thế trận HCCD liên hoàn, vững chắc, có LLHC dự bị và cơ động mạnh. Trên cơ sở TTHC do hậu cần Miền xây dựng tại chiến trường B2, HCCD nhanh chóng tổ chức, cơ động lực lượng, điều chỉnh bố trí để hình thành thế trận HCCD liên hoàn, vững chắc, bao quanh Sài Gòn, phù hợp quyết tâm chiến dịch, có chiều sâu, từ hậu phương chiến trường, chiến dịch đến các hướng tác chiến, bám sát các quân đoàn, cơ động theo đơn vị thọc sâu và bố trí bí mật tại chỗ để bảo đảm cho lực lượng chiến đấu trong lòng địch.

Hậu cần Miền tăng cường lực lượng cho các Đoàn hậu cần 814, 210 và 235 đứng chân trên các hướng Đông, Đông Bắc và Tây Bắc Sài Gòn; chỉ đạo các đoàn hậu cần tổ chức các cánh hậu cần tiến ra phía trước, tiếp cận đội hình các quân đoàn cơ động. Tổ chức thêm Đoàn hậu cần 240 ở phía Tây, cùng Đoàn hậu cần 230 trực tiếp bảo đảm cho các lực lượng tác chiến ở hướng Tây và Tây Nam Sài Gòn. Chỉ đạo hậu cần QK 7 mở rộng các CCHC ở Đông Đường 15 - Bắc Bà Rịa để bảo đảm cho hướng Đông và Đông Nam Sài Gòn; hậu cần QK 8 mở rộng các CCHC ở Đông và Tây Quốc lộ 4 để bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu trên hướng Tây Nam và Nam Sài Gòn; hình thành TTHC bao quanh Sài Gòn, gồm các tuyến tại chiến trường: Tuyến hậu phương là Đoàn 770; tuyến cơ bản là các đoàn hậu cần đã triển khai quanh Sài Gòn - là tuyến sau của các quân đoàn cơ động; tuyến phía trước là các cánh của các đoàn HCCD và các cánh của hậu cần các QK để trực tiếp bảo đảm cho các quân đoàn. Hậu cần các quân đoàn triển khai CCHC phía trước, tiếp cận đội hình chiến đấu của các sư đoàn. Bên cạnh đó, còn tổ chức các mũi hậu cần của lực lượng vũ trang thành phố, các bộ phận hậu cần của các đoàn đặc công để trực tiếp bảo đảm ngay trong lòng địch.

Hậu cần chiến dịch tổ chức LLHC cơ động mạnh, gồm Đoàn hậu cần 220 ở Bắc Sài Gòn, cơ động theo Đường 13; tổ chức cụm hậu cần dự bị của chiến dịch có đủ các lực lượng bảo đảm để sẵn sàng chi viện bảo đảm trên hướng chủ yếu là Tây Bắc và Đông Bắc. Hậu cần các quân đoàn tổ chức LLHC cơ động trên các xe ô tô vận tải bám sát đội hình của các binh đoàn thọc sâu trên 5 hướng để kịp thời bảo đảm.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa phương thức bảo đảm tại chỗ với bảo đảm cơ động từ nơi khác đến, giữa phương pháp bảo đảm theo phân cấp và vượt cấp. Trong điều kiện khả năng hậu cần tại chỗ hạn chế, phải bảo đảm xa hậu phương lớn miền Bắc, HCCD đã kết hợp chặt chẽ giữa BĐHC tại chỗ và bảo đảm cơ động từ nơi khác đến, giữa bảo đảm theo phân cấp và vượt cấp để phát huy cao nhất khả năng bảo đảm. Đối với các đơn vị chiến đấu cơ động bằng cơ giới, HCCD sử dụng lực lượng vận tải ô tô, dựa vào TTHC tại chỗ cơ động theo đội hình phát triển tiến công; kết hợp giữa bảo đảm tại chỗ và cơ động, lấy tại chỗ là cơ bản, nên đã đáp ứng được yêu cầu tác chiến khẩn trương, đột phá và nhanh chóng thọc sâu vào sào huyệt của địch.

Với đặc điểm cách đánh bao vây, chia cắt chiến lược, chặn đánh chủ lực ở vòng ngoài, thọc sâu đột phá mạnh vào trung tâm Sài Gòn, tốc độ cơ động tiến công rất nhanh. Sau khi hậu cần chiến lược trực tiếp bảo đảm cho các quân đoàn trong quá trình hành quân cơ động vào chiến trường, HCCD tiếp nhận trách nhiệm bảo đảm; kết hợp giữa bảo đảm của HCCD và hậu cần chiến lược trực tiếp bảo đảm cho các quân đoàn, đặc biệt là các binh đoàn cơ động thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn. Hậu cần Miền, HCCD chỉ đạo, cùng hậu cần QK 7 tăng cường lực lượng và bảo đảm vật chất cho các mũi, bộ phận hậu cần của Thành đội Sài Gòn và các đơn vị đặc công. Tăng cường lực lượng, bảo đảm vượt cấp trên cơ sở phân cấp bảo đảm, HCCD kịp thời bảo đảm cho các nhu cầu chiến đấu khẩn trương của các đơn vị phía trước, quá trình thọc sâu.

Trong bảo đảm quân y, phương pháp bảo đảm rất linh hoạt để cứu chữa, nhanh chóng chuyển về tuyến sau. Tuyến quân y trung đoàn thu hẹp phạm vị cứu chữa, nhanh chóng cấp cứu và chuyển thương binh (TB) về tuyến sư đoàn. Ở tuyến sư đoàn, quân y chiến dịch tăng cường lực lượng để cứu chữa tại chỗ và cơ động theo đội hình chiến đấu; vẫn cứu chữa theo phân cấp nhưng không giữ lại điều trị mà nhanh chóng chuyển về tuyến sau, để lực lượng quân y nhanh chóng cơ động bám theo đội hình chiến đấu. Tuyến quân y chiến dịch cũng chỉ giữ lại điều trị TB nhẹ, TB nặng cũng chỉ giữ đến khi vết thương ổn định rồi chuyển về tuyến của chiến trường. Việc vận chuyển TB chủ yếu bằng cơ giới, chiếm tới 80% TB từ tuyến trung đoàn về sư đoàn, 95% TB từ tuyến sư đoàn về chiến dịch.

Thứ tư, kết hợp giữa tổ chức các cụm hậu cần để bảo đảm tại chỗ với tổ chức các tuyến vận tải chiến lược để chi viện bảo đảm cho chiến dịch. Hậu cần chiến dịch chủ động tổ chức đầu cầu tiếp nhận và tổ chức kho quy mô lớn thành các cụm hậu cần, tập trung để tiếp nhận, cấp phát khối lượng lớn vật chất trong thời gian ngắn. Điều chỉnh Đoàn hậu cần 770 từ Bù Gia Mập xuống lập khu tiếp nhận ở Đồng Xoài để thành lập tổng kho chiến dịch; điều chỉnh tổ chức các đoàn hậu cần tuyến sau (Đoàn 220, Đoàn 340) và các lực lượng trực thuộc Hậu cần Miền để thành lập các phân đội cơ động bổ sung cho các đoàn hậu cần tuyến trước. Tổ chức cụm hậu cần dự bị chiến dịch do Đoàn hậu cần 220 phụ trách để đồng bộ các thành phần bảo đảm trong khu vực An Lộc (trên trục Quốc lộ 13), sẵn sàng cơ động chị viện cho các hướng và hai cánh quân chủ yếu tiến công theo Quốc lộ 13.

Song song với chuẩn bị, tổ chức các cụm hậu cần, việc bảo đảm cơ động lực lượng, vật chất vào tập kết chiến dịch được chú trọng, do hậu cần chiến lược đảm nhiệm, gồm Bộ Tổng Tham mưu cùng TCHC, Tổng cục Kỹ thuật trực tiếp tổ chức và chỉ huy, Đoàn vận tải chiến lược 559 đảm nhiệm vận chuyển. Tận dụng các phương thức và phương tiện vận tải của Quân đội, Nhà nước và huy động vận tải Nhân dân trong vùng mới giải phóng; sử dụng hợp lý hệ thống giao thông chiến lược đã được chuẩn bị trên tuyến đường 559, kết hợp với các đường trong vùng mới giải phóng, đường ống xăng dầu, vận tải thuỷ của TCHC, Quân chủng Hải quân, Tổng cục vận tải đường biển để vận chuyển binh khí kỹ thuật vào Quy Nhơn, Cam Ranh và sử dụng 311 toa xe lửa dành riêng cho cơ động binh khí kỹ thuật ở tuyến hậu phương, tạo nên mạng lưới giao thông, vận chuyển liên hoàn, tốc độ vận chuyển nhanh.

Thứ năm, tổ chức cơ quan HCCD với thành phần phù hợp, phân cấp, phân quyền cụ thể. Với đặc điểm chỉ huy hậu cần để bảo đảm cho chiến dịch quy mô lớn, có ý nghĩa chiến lược, nhiều thành phần LLHC cùng tham gia, trên phạm vi rộng; Trung ương Đảng, Chính phủ tổ chức Hội đồng chi viện tiền tuyến để phát huy sức mạnh của cả dân tộc, toàn miền Bắc chi viện cho chiến trường. Bộ máy HCCD được thành lập gồm cả hậu cần chiến lược, hậu cần chiến trường, có đủ quyền hạn để chỉ huy hậu cần chiến trường. Hậu cần chiến dịch dựa vào bộ máy hậu cần Miền đã được chuẩn bị chiến trường từ nhiều năm, xây dựng được TTHC tại chỗ vững mạnh, có đủ lực lượng và vật chất với các tổ chức hậu cần nhân dân từ Miền, tới khu, tỉnh, huyện. Thành phần chỉ huy HCCD có Chủ nhiệm TCHC, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật làm Phó Tư lệnh chiến dịch trực tiếp phụ trách hậu cần, kỹ thuật; các cán bộ có năng lực của TCHC, Tổng cục Kỹ thuật làm phái viên của tổng cục và của mặt trận thường xuyên đi hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công tác hậu cần trên các hướng. Hậu cần chiến dịch liên hệ chặt chẽ Hội đồng chi viện tiền tuyến ở hậu phương lớn miền Bắc để chi viện cho chiến trường. Hậu cần nhân dân Miền được tổ chức từ cấp Miền, khu đến tỉnh, huyện, xã, có nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa hậu phương và huy động nhân, vật lực phục vụ chiến dịch.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai (nếu xảy ra) sẽ là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tiến công chiến lược (TCCL) có ý nghĩa quyết định thắng lợi của tác chiến chiến lược, kết thúc chiến tranh, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ. Tác chiến TCCL do Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương trực tiếp lãnh đạo, Bộ Quốc phòng xây dựng kế hoạch, tổ chức công tác chuẩn bị và chỉ huy, điều hành tác chiến, Chính phủ chỉ đạo, tổ chức các hoạt động huy động nguồn lực bảo đảm tác chiến, sự tham gia triển khai thực hiện của các ban, bộ, ngành liên quan. Theo đó, BĐHC tác chiến TCCL đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, sự chỉ huy, điều hành của Bộ Quốc phòng; Chính phủ chỉ đạo; các bộ, ngành, địa phương xây dựng, huy động, khai thác các nguồn lực, phối hợp, hiệp đồng bảo đảm tác chiến. Kế thừa những kinh nghiệm rút ra từ BĐHC chiến dịch Hồ Chí Minh, vận dụng vào điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; BĐHC tác chiến TCCL cần quan tâm đến những vấn đề sau:

   Một là, về tổ chức, sử dụng LLHC. Ngay từ thời bình, căn cứ phương án tác chiến phòng thủ, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội địa bàn, thế bố trí các căn cứ, phân CCHC của khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, thế bố trí các căn cứ hậu phương, căn cứ, phân CCHC chiến lược, các QK tổ chức LLHC thành các căn cứ, phân CCHC để hình thành TTHC trên từng khu vực, đặc biệt là các hướng, khu vực trọng điểm, nơi dự kiến tổ chức tác chiến TCCL. Mỗi CCHC tổ chức đồng bộ các thành phần bảo đảm, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cấp. Thời bình, căn cứ, phân CCHC chưa triển khai hoàn chỉnh, từng bước chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sẵn sàng triển khai khi chuyển sang thời chiến.

Đối với các quân đoàn chủ lực cơ động, khi tiến hành chiến dịch ở địa bàn nào mới triển khai căn cứ, phân CCHC. Căn cứ phương án tác chiến phòng thủ của Bộ Quốc phòng, các QK nơi quân đoàn đứng chân phải dự kiến kế hoạch tổ chức, triển khai các căn cứ, phân CCHC và tổ chức huấn luyện thường xuyên. Hậu cần quân đoàn kết hợp chặt chẽ với hậu cần tại chỗ, hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, QK để triển khai căn cứ, phân CCHC. Khi tác chiến, căn cứ tình hình thực tế để tổ chức HCCD, thường triển khai thành các cụm hậu cần cơ động ở phía trước để tiếp cận và sẵn sàng phát triển theo đội hình tiến công thọc sâu. Những khu vực có sẵn các kho, trạm thì không nhất thiết hậu cần quân đoàn phải triển khai hoàn chỉnh, mà kết hợp với kho, trạm tại chỗ để bảo đảm.

Sử dụng LLHC hợp lý, có trọng tâm, kết hợp chặt chẽ giữa hậu cần quân đội các cấp với các lực lượng, cơ quan chức năng của các bộ, ngành Trung ương, các địa phương, Hội đồng cung cấp các cấp, các tổ chức đoàn thể, thành phần kinh tế,… có LLHC ở các căn cứ hậu phương chiến lược, căn cứ, phân CCHC các lực lượng trên chiến trường; có LLHC tăng cường cho các chiến dịch, đơn vị, đặc biệt là cá đơn vị đánh trận quyết chiến chiến lược; tổ chức LLHC dự bị có khả năng cơ động mạnh sẵn sàng xử trí các tình huống tác chiến.

   Hai là, về xây dựng TTHC. Để phát huy sức mạnh tổng hợp, phải chủ động xây dựng TTHC, kịp thời điều chỉnh, chuyển hoá TTHC trong tác chiến TCCL. Tổ chức bố trí các căn cứ hậu phương, căn cứ, phân CCHC, kho, trạm các cấp phân tán về lực lượng nhưng tập trung trong công tác bảo đảm, tạo sự vững chắc, liên hoàn, có tính cơ động cao, chuyển hoá nhanh, đáp ứng yêu cầu tác chiến, nhiều phương thức bảo đảm cho tác chiến TCCL.

Ngay từ thời bình, phải bố trí các căn cứ hậu phương các cấp, CCHC chiến lược, chiến dịch thành hệ thống, hoạt động nhịp nhàng ở tất cả các cấp để sẵn sàng sử dụng để bảo đảm khi chiến tranh xảy ra. Quá trình nghiên cứu bố trí các căn cứ hậu phương, căn cứ, phân CCHC cần hình thành các cụm hậu cần trên từng chiến trường, hướng phòng thủ, địa bàn chiến lược, nơi dự kiến tổ chức tác chiến TCCL. Từng bước triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng trong các căn cứ hậu phương các cấp, căn cứ, phân CCHC, đặc biệt là các tuyến vận tải chiến lược với nhiều phương thức: đường không, đường bộ, đường biển, đường ống xăng dầu; kết hợp giữa tận dụng mạng đường sẵn có với mở mới các tuyến đường để kết nối hậu phương đất nước với căn cứ hậu phương các chiến trường; kết nối trong nội bộ các chiến trường. Tham mưu với Đảng, Nhà nước quy hoạch, xây dựng các sân bay, tuyến đường cao tốc có thể cải tạo thành đường cất, hạ cánh dã chiến của không quân để sẵn sàng tổ chức vận chuyển bằng đường không kết nối giữa hậu phương chiến lược với các căn cứ hậu phương, căn cứ, phân CCHC chiến trường.

Ba là, về tạo nguồn, phương thức bảo đảm hậu cần. Nguồn BĐHC cho tác chiến TCCL gồm: Nguồn bảo đảm của hậu phương đất nước (nguồn cơ bản), nguồn tự sản xuất của lực lượng vũ trang, nguồn khai thác từ nước ngoài, nguồn thu được của địch. Ngay từ thời bình, phải chuẩn bị, xây dựng toàn diện, đồng bộ nguồn BĐHC, được củng cố, phát triển trong tác chiến. Phải chủ động kết hợp kinh tế với quốc phòng, phát huy hậu cần nhân dân; tổ chức dự trữ vật chất, phương tiện hậu cần hàng năm, phân bổ số lượng, chủng loại hợp lý giữa các địa bàn, ưu tiên hướng, địa bàn trọng điểm, nơi dự kiến tổ chức các trận quyết chiến chiến lược. Xây dựng và quản lý chặt chẽ lực lượng dự bị động viên hậu cần theo từng khu vực, địa bàn để sẵn sàng động viên khi có chiến tranh. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện phương thức BĐHC cho các đơn vị chủ lực (quân đoàn) cơ động, đơn vị được trang bị hoả lực mạnh.

Bốn là, về tổ chức bộ máy chỉ huy hậu cần. Để BĐHC cho tác chiến TCCL với nhiều thành phần lực lượng tham gia, yêu cầu khối lượng vật chất hậu cần lớn, nhiều chủng loại, nhiều thành phần LLHC các cấp cùng bảo đảm. Các đơn vị tham gia tác chiến TCCL thường có tỷ lệ thương vong cao, tính chất vết thương phức tạp, vận chuyển TB trong điều kiện rất khó khăn, ác liệt. Vì vậy, để phối hợp hành động của các lực lượng tạo sức mạnh tổng hợp, phải tổ chức cơ quan chỉ huy hậu cần phù hợp, đủ mạnh, phân cấp, phân quyền hợp lý; trong đó, chú trọng khâu then chốt là tạo nguồn BĐHC, chỉ huy công tác vận tải, bảo đảm quân y. Thành phần cơ quan chỉ huy hậu cần phải có hậu cần chiến lược, hậu cần các quân chủng, binh chủng, ngành, đại diện các bộ, ban, ngành, hậu cần khu vực phòng thủ, cùng tham gia tác chiến TCCL. Chú trọng nâng cao năng lực tham mưu, chỉ huy của hậu cần các cấp; trang bị phương tiện thông tin chỉ huy hiện đại tiến tới tự động hoá chỉ huy hậu cần.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch quyết chiến chiến lược điển hình trong kháng chiến chống Mỹ, quá trình BĐHC để lại nhiều kinh nghiệm quý. Kế thừa, vận dụng, phát triển những kinh nghiệm đó để sẵn sàng tổ chức BĐHC tác chiến TCCL trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của cả hậu cần chiến lược, chiến dịch, quân chủng, binh chủng, ngành; góp phần thắng lợi vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa♦

Trung tướng, GS.TS. PHAN TÙNG SƠN

Giám đốc Học viện Hậu cần

Facebook Messenger Zalo Gọi điện