Trải qua hơn 80 năm từ Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam độc lập, quyền bầu cử - quyền cơ bản của công dân ngày càng được củng cố và hoàn thiện, qua đó góp phần bảo đảm quyền công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Với những đặc điểm dân chủ, tiến bộ, việc thực thi quyền bầu cử tại Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Ngày 03/9/1945, chỉ 1 ngày sau Ngày Độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo…”. Ngày 06/01/1946, bằng ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập - tự do vừa giành được, toàn thể Nhân dân Việt Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.
Hơn 80 năm qua tại Việt Nam, quyền bầu cử - quyền chính trị cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, nhằm bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, công dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước, góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Vì vậy, thực hiện bầu cử cũng là trách nhiệm của công dân đối với đất nước.
Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo 4 nguyên tắc: Phổ thông; bình đẳng; trực tiếp; bỏ phiếu kín. Trong đó:

Nguyên tắc phổ thông: Là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Mọi công dân, không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật (trừ những người bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người mất năng lực hành vi dân sự). Nguyên tắc này thể hiện tính công khai, dân chủ rộng rãi, đòi hỏi sự bảo đảm để công dân thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của mình.
Nguyên tắc bình đẳng: Bình đẳng là một nguyên tắc quan trọng xuyên suốt quá trình bầu cử, từ khi lập danh sách cử tri cho đến khi xác định kết quả bầu cử. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm tính khách quan, không thiên vị để mọi công dân đều có khả năng như nhau tham gia bầu cử và ứng cử; nghiêm cấm mọi sự phân biệt, kỳ thị dưới bất cứ hình thức nào. Nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử được thể hiện như sau: Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình cư trú. Mỗi người chỉ được ghi tên vào Danh sách những người ứng cử ở 1 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc 1 đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thuộc 1 đơn vị hành chính ở cấp tương ứng. Mỗi cử tri chỉ được bỏ 1 phiếu bầu đại biểu Quốc hội và 1 phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp. Giá trị phiếu bầu của mọi cử tri như nhau mà không có sự phân biệt. Nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, số lượng đại biểu được bầu ở từng địa phương, bảo đảm tính đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội; các dân tộc thiểu số và phụ nữ có tỷ lệ đại diện hợp lý trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân.
Nguyên tắc trực tiếp: Là việc cử tri trực tiếp đi bầu cử, tự bỏ lá phiếu của mình vào hòm phiếu để lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước. Điều 69 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định: Cử tri không được nhờ người khác bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn người mình tín nhiệm mà không bị tác động bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài. Theo đó, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Cử tri viết phiếu bầu trong khu vực riêng, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Các nguyên tắc có tính dân chủ, tiến bộ của quyền bầu cử luôn nhất quán xuyên suốt quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là một nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngày càng quyết liệt, toàn diện, đồng bộ. Bộ máy nhà nước đã được sắp xếp theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Lần đầu tiên sau 80 năm lập nước, chính quyền địa phương 3 cấp đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử để đất nước có được những thành tựu to lớn, vững bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu đổi mới, tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển, cả nước chuyển sang thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Nền hành chính quốc gia được cải cách theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Tư duy xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới; hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ hơn. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật có nhiều tiến bộ.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng tiếp cận đầy đủ những nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền hiện đại. Nhà nước ta đã có những cố gắng vượt bậc trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật vì dân chủ, nhân quyền và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó đã tạo dựng được về cơ bản cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Việc bổ sung nội dung “kiểm soát quyền lực nhà nước” trong nguyên tắc tổ chức, vận hành của nhà nước là một bước đột phá trong bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ được đẩy mạnh, các quyền hiến định của nhân dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp, đã được từng bước cụ thể hóa trong các luật: Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tín ngưỡng tôn giáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo... Và gần đây là các luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức chính quyền địa phương... Quyền dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; tham gia vào quản lý nhà nước của nhân dân được củng cố và có những bước tiến quan trọng.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân”. Bầu cử không chỉ là thực thi quyền cơ bản của công dân, quyền chính trị gắn bó mật thiết với mỗi công dân, mà còn khẳng định vị thế là chủ và làm chủ của công dân trong quản lý xã hội, khẳng định bản chất tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của chế độ ta.
BBT